Tụ cầu vàng: siêu vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh

Tụ cầu vàng: siêu vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh

Tổng quan

Tụ cầu vàng là một loài tụ cầu khuẩn Gram-dương kỵ khí tùy nghi (tên khoa học: Staphylococcus aureus (SA)), và là nguyên nhân thông thường nhất gây ra nhiễm khuẩn trong các loài tụ cầu.

Nó là một phần của hệ vi sinh vật sống thường trú ở da được tìm thấy ở cả mũi và da.

Khoảng 20% dân số loài người là vật mang lâu dài của S. aureus và tỉ lệ có thể lên tới 80% đối với những người làm việc ở các cơ sở y tế, những người sử dụng kim tiêm thường xuyên (như bệnh nhân tiểu đường), bệnh nhân nằm viện và những người có hệ miễn dịch suy yếu.

Sắc tố carotenoid staphyloxanthin làm nên tính chất màu vàng của ‘S. aureus’, vốn có thể thấy được từ các khóm cấy trên thạch của vi khuẩn này.

Sắc tố đóng vai trò là một tác nhân độc hại có tính chất chống ôxy hóa giúp cho vi sinh vật không bị chết bởi các chủng oxy gây phản ứng được sử dụng bởi hệ thống miễn dịch.

Các tụ cầu thiếu sắc tố sẽ dễ dàng bị tiêu diệt bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể ký chủ.

Môi trường sống

Staphylococcus aureus có trong nhiều môi trường sống trước đây, thường sống ký sinh vô hại, nhưng cũng có thể gây bệnh, đặc biệt là khi (SA) xâm nhập hoặc xuyên qua da, chúng có thể gây ra nhiều loại nhiễm trùng khác nhau, chẳng hạn như các sự nhiễm trùng da, làm loét, phỏng da hoặc các sự nhiễm trùng nặng trong máu, phổi hoặc các mô khác.

Tụ cầu vàng được tìm thấy gần như khắp nơi trong tự nhiên, trên da và niêm mạc của động vật máu nóng, trên da, mũi và trong đường hô hấp ở mức khoảng 25 đến 30% số người. Ngoài ra, tụ cầu vàng cũng được tìm thấy trong thực phẩm và vùng nước.

Cứ khoảng 3 người trong số 10 người khỏe mạnh có thể có vi khuẩn SA trên người và hầu hết mọi người đều không biết họ đang có mang vi khuẩn SA trong người.

Nhiễm trùng tụ cầu vàng

Tụ cầu có thể gây ra rất nhiều bệnh nhiễm trùng khác nhau. Triệu chứng điển hình của nhiễm tụ cầu trên da là bệnh chốc lở (Impetigo) và hình thành những ổ áp-xe chứa đầy mủ, sưng đau và tấy đỏ, và thường là kèm theo chảy mủ.

Nếu tụ cầu xâm nhập vào máu (gây nhiễm khuẩn huyết), các triệu chứng sẽ bao gồm sốt, ớn lạnh và hạ huyết áp. Những phụ nữ cho con bú có thể bị nhiễm một bệnh do tụ cầu gọi là chứng viêm vú, có thể đưa vi khuẩn vào sữa mẹ.

Tụ cầu phải khi xâm nhập vào phổi có thể gây viêm phổi, khi vào xương nó có thể gây viêm tủy xương. Nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu vàng cũng có thể gây nhiễm trùng ở tim và van tim (viêm cơ tim).

Nếu tụ cầu lưu thông trong máu, nó có thể được chuyển đến các hệ cơ quan trong cơ thể và gây các bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng, có thể nguy hiểm đến tính mạng (nhiễm khuẩn huyết), có thể dẫn tới sốc hay suy đa phủ tạng và gây tử vong.

Mọi người có thể bị ngộ độc thực phẩm khi ăn phải những thức ăn bị nhiễm tụ cầu vàng SA, khiến người bệnh bị nôn mửa dữ dội và có thể bị sốt.

Những thực phẩm dễ bị nhiễm tụ cầu vàng nhất bao gồm trứng, thịt gia súc, gia cầm, salad (gồm trứng, cá ngừ, thịt gà, khoai tây, mỳ ống), các loại bánh nướng có kem và các sản phẩm từ sữa.

Sự lây lan

Khuẩn tụ cầu vàng có thể lây lan một cách dễ dàng và nhanh chóng giữa người với người thông qua những tiếp xúc trực tiếp như bắt tay, chạm vào các đồ vật nhiễm khuẩn như tay nắm cửa, các vật dụng công cộng như ở phòng gym… và qua hít phải các hạt nước hắt hơi mang khuẩn, tuy nhiên trường hợp này rất hiếm gặp.

Vi khuẩn SA kháng methicillin (MRSA)

Tụ cầu vàng kháng methicillin

Tụ cầu vàng kháng methicillin (Methicillin-resistant Staphylococcus aureus hay là Multi-resistant Staphylococcus aureus, viết tắt MRSA) là chủng tụ cầu vàng có khả năng đề kháng với những kháng sinh nhóm penicillin bao gồm methicillin, penicillin, amoxicillin và oxacillin.

Chúng được coi là một loại “siêu vi khuẩn” vì hiện nay nó có khả năng đề kháng với rất nhiều loại kháng sinh mà trước kia có thể sử dụng để tiêu diệt MRSA trong các bệnh viện, trung tâm y tế…

Tại Mỹ vào năm 2005, có khoảng 19.000 người chết vì nhiễm trùng MRSA. Tại Đức, ước tính số người chết do nhiễm trùng tại bệnh viện có sự chênh lệch lớn, từ khoảng 1.500 đến khoảng 40.000 người chết mỗi năm.

Dựa theo một số đặc điểm, MRSA được chia thành 2 nhóm là HA-MRSA và CA-MRSA. HA-MRSA là nhóm tụ cầu vàng đa kháng kháng sinh, có khả năng gây nhiễm khuẩn nặng và lan tràn ở những bệnh nhân nằm viện.

Trong khi đó, CA-MRSA lại thông thường chỉ gây nhiễm khuẩn da và mô mềm ở những người khỏe mạnh. CA-MRSA đa số vẫn nhạy với kháng sinh nhóm beta lactam; tuy nhiên, chúng có thể sản xuất độc tố Panton-Valentine gây hại cho các tế bào miễn dịch.

Tuy nhiên, do một người có thể nhiễm tụ cầu vàng ở cộng đồng rồi biểu hiện các dấu hiệu nhiễm khuẩn tại bệnh viện và ngược lại nên lằn ranh phân biệt giữa 2 nhóm này ngày càng mờ đi.

Quá trình kháng thuốc

Vào năm 1940, penicillin được đưa vào sử dụng cho các ca nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, chỉ 2 năm sau, chủng tụ cầu vàng kháng penicillin đã được phát hiện.

Sau đó vào năm 1959, methicillin bắt đầu được sử dụng và chỉ 1 năm sau, chủng S. aureus kháng methicillin được phân lập.

Sự kháng methicillin vẫn diễn ra đến ngày nay với thêm nhiều chủng MRSA xuất hiện. Vì sự sử dụng rộng rãi của vancomycin mà chủng S. aureus kháng vancomycin ở nồng độ trung bình (VISA) đã lộ diện vào những năm 1990s.

Đó cũng là khoảng thời gian đánh dấu sự có mặt của CA-MRSA trong cộng đồng. Vào năm 2002, tụ cầu vàng kháng vancomycin (ở nồng độ cao) đã được phân lập lần đầu tiên.

Cơ chế kháng thuốc

Gen kháng methicillin (mecA) nằm trên SCCmec (Staphylococcal cassette chromosome mec).

SCCmec được biết đến là “vùng kháng kháng sinh” bởi nó không chỉ chứa gen khác methicillin mà còn các gen kháng kháng sinh ngoài nhóm beta lactam và kim loại nặng.

Đặc biệt, vùng gen này có thể tự di chuyển ra khỏi hoặc gắn vào nhiễm sắc thể của tụ cầu khuẩn nhờ hoạt động của enzyme tái tổ hợp.

Chính vì vậy, nó có thể được chuyển một cách dễ dàng từ một tụ cầu vàng kháng thuốc sang tụ cầu khuẩn nhạy thuốc bằng sự tiếp hợp. Điều này dẫn tới sự lan truyền ngày càng nhanh chóng và rộng rãi của tụ cầu vàng đa kháng thuốc.

Cách phòng tránh

Cách phòng tránh sự lây lan của vi khuẩn này là giữ vệ sinh, rửa tay kỹ với xà phòng hay chất diệt khuẩn trước khi chế biến thực phẩm và sau khi đi vệ sinh; làm sạch và tiệt trùng nhà bếp và khu vực ăn uống; khi nấu, đảm bảo nhiệt độ cao trên 60 độ C và bảo quản thực phẩm lạnh dưới 4 độ C.

Ngoài ra giữ sạch sẽ và hạn chế tiếp xúc với các bề mặt nhiều người sử dụng như các thanh tay vịn, các vòi nước, hoặc các tay nắm cửa, đặc biệt là trong bệnh viện và các khu cộng đồng.

Tại các cơ sở y tế, bệnh nhân nên được tầm soát MRSA và nếu phát hiện thì họ cần được cách li để tránh lây lan cho mọi người.