Bệnh hạt cơm (Warts) là gì? Nguyên nhân, biểu hiện và điều trị

Bệnh hạt cơm (Warts) là gì? Nguyên nhân, biểu hiện và điều trị

Đại cương về bệnh hạt cơm

Bệnh hạt cơm (Warts) là bệnh do virút có tên Human Papilloma Virút (HPV) gây nên làm tăng sinh lành tính của các tế bào biểu bì ở da và niêm mạc.
Bệnh gặp ở mọi giới và mọi lứa tuổi. Hay gặp nhất ở giới trẻ, những người đang trong độ tuổi sinh đẻ.
Khoảng 10% dân số mắc bệnh. Tỉ lệ mắc bệnh cao hơn ở những người suy giảm miễn dịch, đặc biệt là suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải.

Virút có mặt ở nhiều nơi trong môi trường sống, như bể bơi, nhà tắm, phòng tập thể thao.
Sự lây nhiễm HPV có thể là do tiếp xúc trực tiếp giữa người với người qua da bị xây sát. Hoặc qua các vật dụng trung gian như giầy dép, dụng cụ thể thao.

Bệnh không gây chết người nhưng có thể gây đau, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh hạt cơm

Có khoảng trên 100 type HPV đã được xác định và type gây loạn sản biểu bì dạng hạt cơm là type 5 và 8.

Khi xâm nhập vào các tế bào biểu bì, virút có thể tồn tại lâu từ 2 đến 9 tháng, không có các triệu chứng lâm sàng.
Hạt cơm có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào của cơ thể, nhất là ở bàn tay, bàn chân.

Tiến triển của bệnh có thể khỏi tự nhiên từ 20-25% trường hợp.
Những trường hợp hạt cơm rải rác, mạn tính hay tái phát có liên quan đến tình trạng suy giảm miễn dịch.

Biểu hiện bệnh hạt cơm

Ban đầu thường là những sẩn nhỏ bằng hạt kê, màu da.
Sau vài tuần hoặc vài tháng, thương tổn lớn dần, nổi cao, có hình bán cầu, bề mặt sần sùi thô ráp, dày sừng với nhiều kích thước khác nhau.

Các thương tổn rải rác hoặc thành dải hoặc thành đám hay gặp ở mu bàn tay, mu bàn chân, ngón tay và ngón chân, quanh móng, da đầu.

Khi dùng dao mổ cắt bỏ hết phần dày sừng thấy bên dƣới là một mô màu trắng trên có các chấm đen.
Biểu hiện đó là do hiện tượng tắc các mạch máu nhỏ ở lòng bàn chân tạo nên.

Đây là dấu hiệu có giá trị giúp chẩn đoán phân biệt giữa hạt cơm với những bệnh khác khu trú ở lòng bàn chân như chai chân hay dày sừng bàn tay bàn chân khu trú.
Đau khi đi lại, nhiều trường hợp rất đau và không thể đi lại được.

Điều trị bệnh hạt cơm

Hạt cơm tiến triển từ một vài tháng đến một vài năm.
Nếu không được điều trị bệnh cũng có thể tự khỏi. Khoảng 2/3 số hạt cơm tự mất đi sau 2 năm.
Tình trạng tự khỏi bệnh xảy ra ngay cả những trường hợp có nhiều tổn thương lan tỏa.

Nhiều phương pháp được áp dụng để điều trị bệnh hạt cơm như dùng các hóa chất hoặc thủ thuật để loại bỏ tổn thương.

Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu.
Việc sử dụng một hay kết hợp nhiều biện pháp điều trị tùy thuộc vào từng trường hợp bệnh cụ thể.

Điều trị nội khoa

Các thuốc bôi tại chỗ

  • Mỡ salicyle: mỡ salicyle với nồng độ khác nhau từ 10% đến 40%
  • Duofilm là dung dịch keo gồm có acid lactic 16,7% và acid salicylic 16,7%, có tác dụng sát khuẩn và làm tan rã các tế bào lớp sừng.
  • Collomack chứa acid lactic 0,5g, acid salicylic 2g và polidocanol 0,2g, có tác dụng bạt sừng mạnh do vậy được chỉ định điều trị các hạt cơm sâu, có kích thước lớn ở bàn tay, bàn chân. Chống chỉ định đối với các hạt cơm ở vùng mặt.
  • Cantharidin 0,7% đƣợc chiết xuất từ loại bọ cánh cứng.
  • Axít trichloracetic 33%: có tác dụng đông vón protein và gây hoại tử tế bào sừng.
  • Podophyllotoxin là thuốc chống phân bào được bào chế dưới dạng dung dịch keo 25%.
  • Nitrat bạc 10% có tác dụng bạt sừng.
  • Axít 5-aminolaevulinic là một chất nhạy cảm với ánh sáng. Bôi thuốc lên thương tổn sau đó chiếu tia cực tím (UV) có tác dụng diệt các tế bào chứa virút.
  • Immiqimod là chất kích thích miễn dịch. Kem immiqimod 5% bôi ngày hai lần trong thời gian 6 đến 12 tuần.
  • Kem 5-fluouracil có tác dụng ức chế sự nhân lên của các tế bào, được bào chế dưới dạng kem, bôi 1-2 lần/ngày trong thời gian 3 đến 4 tuần.
  • Kem tretinoin 0,05%-0,1% có tác dụng bạt sừng, thường được dùng để điều trị hạt cơm phẳng, nhất là ở trẻ em.
  • Sulfat kẽm dạng dung dịch bôi tại chỗ, ngày bôi 1 đến 2 lần.

Các thuốc tiêm trong thương tổn:

  • Bleomycin là một glycopeptides có tác dụng gây độc tế bào. Tiêm dung dịch bleomycin 0,5% trong thương tổn có hiệu quả.
    Thuốc được chỉ định trong trường hợp thương tổn có kích thước lớn, tái phát. Và không đáp ứng điều trị với các
    phương pháp khác.
  • Interferon alpha-2a: Thuốc có tác dụng ức chế sự nhân lên của virút trong tế bào, đồng thời kích thích hoạt động của các đại thực bào. Thuốc được tiêm trong thương tổn, tuy nhiên dễ bị tái phát khi ngừng thuốc.

Điều trị bằng thủ thuật

  • Phẫu thuật lạnh: sử dụng nitơ lạnh ở nhiệt độ -196°c gây bỏng lạnh làm bong thương tổn. Hiệu quả điều trị cao và ít tốn kém.
  • Phẫu thuật bằng laser
  • Phẫu thuật cắt bỏ thương tổn: phương pháp này rất hay tái phát và đặc biệt rất khó điều trị đối với những người bệnh có nhiều thương tổn.
  • Vắc-xin phòng virút: phương pháp này có tác dụng phòng ngừa sự tái nhiễm virút HPV. Tuy nhiên, tiêm vắc-xin chủ yếu được áp dụng đối với HPV sinh dục, nhất là đối với các chủng virút có nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung.

Phòng bệnh hạt cơm

  • Sát khuẩn làm vệ sinh thường xuyên các địa điểm cộng cộng nhƣ bể bơi, nhà tắm công cộng, phòng tập thể thao…
  • Cần có bảo hộ lao động đối với một số nghề nghiệp có nguy cơ mắc bệnh cao như thợ giết mổ gia súc, trồng hoa..
  • Điều trị loại bỏ các tổn thương nếu có thể nhằm loại bỏ nguồn lây nhiễm.