Bệnh giang mai – Biểu hiện chẩn đoán và cách điều trị

Bệnh giang mai - Biểu hiện chẩn đoán và cách điều trị

Bệnh Giang mai (Syphilis)

Là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn giang mai.

Bệnh lây truyền chủ yếu là qua đường tình dục. Đặc biệt là ở thời kỳ đầu khi có những tổn thương ở bộ phận sinh dục biểu hiện bằng những vết trợt mà thường gọi là săng giang mai.

Vi khuẩn gây bệnh

Vi khuẩn gây bệnh có hình lò xo xoắn (nên được gọi là xoắn khuẩn) có màu nhạt, phát hiện trên kính hiển vi huỳnh quang có màu đen (Treponema pallidum – xoắn khuẩn giang mai) do Schaudinn và Hoffmann phát hiện năm 1905.

Đây là 1 loại xoắn khuẩn hình lò xo có 6-10 vòng xoắn, đường kính ngang không quá 0,5 µ, dài 6-15µ.

Xoắn khuẩn có 3 loại di động: di động theo trục dọc kiểu vặn đinh ốc, di động qua lại như một quả lắc đồng hồ và di động lượn sóng. Cả 3 loại di động này có thể tồn tại kéo dài đến 2 ngày ở môi trường ẩm ướt.

Đường lây truyền: có 3 đường lây truyền chính là lây truyền qua đường tình dục; lây truyền qua đường máu (tiêm truyền máu hoặc tiêm chích ma túy mà bơm kim tiêm không vô khuẩn) và lây truyền từ mẹ sang con (qua rau thai từ tháng thứ 4 trở đi).

Chẩn đoán

Bệnh giang mai phát triển theo bốn giai đoạn chính: giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn ủ bệnh và giai đoạn 3.

Giai đoạn 1

Khi tiếp xúc nguồn bệnh (sinh hoạt tình dục), khoảng 3-90 ngày (trung bình 21 ngày), sẽ xuất hiện tổn thương da ở các điểm tiếp xúc, vết loét xuất hiện ở những nơi tiếp xúc với xoắn khuẩn giang mai, thường là ở bộ phận sinh dục như môi lớn, môi bé, âm đạo, cổ tử cung, quy đầu, dương vật hoặc trực tràng.

Tổn thương là một dạng loét, nông, hình tròn hay bầu dục kích thước 0,3 đến 3 cm, bờ nhẵn, màu đỏ, không ngứa, không đau, không có mủ nhưng có nhiều dịch.

Những tổn thương này có rất nhiều vi khuẩn là giai đoạn cực kỳ nguy hiểm vì mức độ lây nhiễm cao nhất.

Đây vết loét thâm nhiễm cứng, kèm theo nổi hạch hai bên vùng bẹn, cứng nhưng cũng không đau.

Điều nguy hiểm là những tổn thương này không đau, không gây khó chịu làm cho bệnh nhân không chú ý hoặc là cho rằng những tổn thương đó là những vết xước do vệ sinh hoặc do sinh hoạt tình dục thô bạo nên dễ bỏ qua.

Các triệu chứng trên có thể tự mất đi sau 3 đến 6 tuần lễ kể cả không điều trị nên nhiều người tưởng lầm là khỏi bệnh nhưng thực sự là vi khuẩn lúc đó đã vào máu, bệnh vẫn tiếp tục phát triển với những biểu hiện khác.

Giai đoạn 2

Xảy ra từ 4 đến 10 tuần sau giai đoạn 1.

Giai đoạn này có rất nhiều biểu hiện khác nhau, ví dụ như nốt ban đối xứng, màu hồng như hoa đào (đào ban) không ngứa trên toàn thân hoặc tứ chi bao gồm cả lòng bàn tay, bàn chân.

Hình ảnh đào ban màu đỏ hồng hoặc hồng tím như cánh hoa đào, ấn vào thì mất, không nổi cao trên mặt da, không bong vảy và tự mất đi.

Thường khu trú hai bên mạng sườn, ngực, bụng, chi trên.

Đào ban xuất hiện dần trong vòng 1 đến 2 tuần, tồn tại không thay đổi trong vòng 1-3 tuần, sau đó nhạt màu dần rồi mất đi. Một số trường hợp có thể có các mảng sẩn, nốt phỏng nước, vết loét ở da và niêm mạc có kích thước khác nhau: bằng hạt đỗ, đinh gim, hoặc sẩn hình liken.

Ranh giới rõ ràng màu đỏ như quả dâu, không liên kết với nhau, thường hay bong vảy và có viền da ở xung quanh sẩn. Nếu các sẩn có liên kết với nhau sẽ tạo thành các mảng, hay sẩn mảng. Khi bị trợt ra, chảy nước, trong nước này có chứa rất nhiều xoắn khuẩn nên rất dễ lây khi tiếp xúc vài những bệnh nhân này.

Các triệu chứng khác thường gặp ở giai đoạn này bao gồm sốt, đau họng, mệt mỏi, sụt cân, đau đầu, nổi hạch.

Một số trường hợp hiếm gặp có thể kèm theo viêm gan, thận, viêm khớp, viêm màng xương, viêm dây thần kinh thị giác, viêm màng bồ đào, và viêm giác mạc kẽ.

Các triệu chứng này thường tự biến mất sau 3-6 tuần

Giai đoạn tiềm ẩn

Giang mai tiềm ẩn được xác định khi huyết thanh dương tính nhưng không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh.

Giai đoạn này chia làm 2 loại: thời gian tiềm ẩn dưới 1 năm sau giai đoạn 2 (sớm) và thời gian tiềm ẩn kéo dài hơn 1 năm sau giai đoạn 2 (muộn).

Giang mai tiềm ẩn sớm có thể tái phát các triệu chứng bệnh, giang mai tiềm ẩn muộn không có triệu chứng và không lây bằng giang mai tiềm ẩn sớm.

Giai đoạn 3

Giang mai giai đoạn 3 có thể xảy ra khoảng 3-15 năm sau những triệu chứng của giai đoạn 1 và được chia thành ba hình thức khác nhau: giang mai thần kinh (6,5%), giang mai tim mạch (10%) và củ giang mai (15%).

Những người bị bệnh giang mai giai đoạn này không lây bệnh.

  • Củ giang mai xuất hiện từ 1-46 năm sau khi nhiễm bệnh (trung bình là 15 năm), có hình cầu hoặc mặt phẳng không đối xứng, màu đỏ như mận, hơi ngả tím, kích thước bằng hạt ngô, mật độ chắc, ranh giới rõ ràng, các củ giang mai tiến triển không lành tính, nhất thiết hoại tử hoặc hoại tử teo hoặc tạo loét, rất chậm lành và ít lây hơn, sau khi khỏi thường để lại sẹo.

Nếu củ, gôm khu trú vào các tổ chức quan trọng và không được điều trị sẽ đe dọa tính mạng bệnh nhân.

  • Giang mai thần kinh là bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh trung ương. Nó có thể xảy ra sớm, không có triệu chứng hoặc biểu hiện lâm sàng bằng viêm màng não, hay sự phân ly giữa biến đổi dịch não tủy đã rõ rệt nhưng gần như không có triệu chứng lâm sàng.

Nếu xảy ra muộn sẽ gây ra viêm màng não, mạch máu não, tổn thương não khu trú hoặc thoái hóa ở não. Giang mai thần kinh thường xảy ra 4-25 năm sau khi nhiễm bệnh. Bệnh có thể gây suy nhược trầm cảm, rối loạn ý thức từng thời kỳ, động kinh, đột quỵ hay gây ra ảo giác đối với người bệnh.

  • Giang mai tim mạch thường xảy ra 10-30 năm sau khi nhiễm bệnh. Các biến chứng thường gặp nhất là phình mạch.

Điều trị bệnh giang mai

Giai đoạn đầu

Lựa chọn đầu tiên cho việc điều trị các bệnh giang mai không biến chứng là một liều duy nhất penicillin G tiêm bắp.

Doxycyclin và tetracyclin cũng là lựa chọn thay thế, tuy nhiên không thể sử dụng ở phụ nữ mang thai.

Ceftriaxon có thể có hiệu quả tương tự như điều trị bằng penicillin.

Giai đoan biến chứng

Do penicillin G ít xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương cho nên đối với những bệnh nhân giang mai thần kinh, nên được tiêm penicillin liều cao vào tĩnh mạch tối thiểu là 10 ngày.

Nếu bị dị ứng với penicillin thì có thể được sử dụng ceftriaxon thay thế.

Điều trị tại thời điểm này sẽ hạn chế sự tiến triển hơn nữa của bệnh, nhưng không thể cải thiện các thiệt hại do bệnh đã gây ra.

Phác đồ cụ thể:

  • Nghi ngờ hoặc giai đoạn 1, 2:

Benzathin penicillin G 2,4 triệu đơn vị tiêm 2 mông x 1 lần/tuần trong 3 tuần liền.

Giai đoạn 3:

Benzathin penicillin G 2,4 triệu đơn vị tiêm 2 mông x 1 lần/ tuần trong 3-4 tuần liền.

Phải điều trị cho bạn tình theo phác đồ trên. Theo dõi hiệu giá huyết thanh để đánh giá tiến triển và tiên lượng bệnh.

Phòng ngừa

Hiện nay, vẫn chưa có vaccin phòng ngừa hiệu quả bệnh giang mai.

Không nên quan hệ tình dục hay tiếp xúc vật lý trực tiếp với một người bị bệnh để tránh lây truyền bệnh giang mai.

Có thể sử dụng bao cao su đúng cách, tuy nhiên vẫn có thể không hoàn toàn an toàn.

Giang mai không lây qua nhà vệ sinh, các hoạt động hàng ngày, bồn tắm, hay dụng cụ ăn uống hoặc quần áo.